TÀI NGUYÊN BLOG

Google

Ai đang ở nhà tôi

1 khách và 0 thành viên

Trò chuyện với tôi

  • (levanbinh72qn1@gmail.com)

Con số thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hình ảnh của Blog

    Cophuong.png Kxd02.jpg Ke_tivi2.jpg Ke_tivi_1.jpg Lethanh.flv Tuc_ngu.swf Bane.jpg Duongtruongson.flv Nhandiabinh.jpg Tui_dia.jpg Ptd.jpg Ch.jpg Sai5.mp3 Dung6.mp3 Untitfasf.png Dilac.jpg KhaytratrePL801.jpg 102.swf 60362_56a8aa294f147.jpg Trang_bia_skkn.jpg

    LỊCH ÂM DƯƠNG

    Sắp xếp dữ liệu

    THÔNG TIN GIAO DIỆN

    NHỮNG NHỊP CẦU TRI THỨC
    Design By: Lê Văn Bình
    Điện thoại: 0905168837

    Văn 8 thi HKI 16-17 Quy Nhơn

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: NNCTT
    Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
    Ngày gửi: 05h:51' 20-01-2017
    Dung lượng: 49.3 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN 8
    HỌC KỲ I, NĂM HỌC 2016-2017
    I PHẦN VĂN,TIỂNG VIÊT(5đ)
    Câu 1: (2 điểm)
    -HS nêu được khái niệm: Câu ghép là những câu do hai hoặc nhiều cụm C-V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C-V này được gọi là một vế câu. (1 điểm)
    HS xác định được câu ghép trong đoạn trích: (0,5 điểm)
    Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm như dâng cao lên chắc nịch.
    Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương.
    -HS xác định được quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu: quan hệ điều kiện-kết quả (0,5điểm)
    Câu 2: (2 điểm)
    I Các ý cơ bản cần có:
    * Chiếc lá thường xuân mà cụ Bơ-men đã vẽ ữên bức tường trong đêm mưa rét chính là một kiệt tác. (0,5 đ) Vì:
    + Chiếc lá giống y như thật. (0,5 đ)
    + Chiếc lá ấy đã tạo ra sức mạnh, khơi dậy sự sống trong tâm hồn con người, cứu sống được Giôn-xi. (0,5đ)
    + Chiếc lá ấy được vẽ tình thương bao la và lòng hi sinh cao thượng của người hoạ sĩ già Bơ-men. (0,5 đ)
    Câu 3: (1 điểm)
    -Nêu được khái niệm thế nào là từ ngữ địa phương: Là từ ngữ chỉ sử dụng ở một (hoặc một số) địa phương nhất định (0.5 đ).
    -Cho 1 ví dụ đúng. (0.5 đ)
    II. PHẦN TÂP LÀM VĂN:(5đ)
    Đề bài: Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào ?
    1/ Yêu cầu chung:
    -Thể loại:Tự sự kết họp miêu tả, biểu cảm
    -Nội dung: Kể lại câu chuyện lão Hạc bán chó
    -Hình thức: Bố cục bài có 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài)
    2/Yêu cần cu thể:
    Học sinh có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng cân đảm bảo sau:
    A-Mở bài: Giới thiệu khái quát nội dung câu chuyện bán chó được nghe.
    B-Thân bài: Kể lại diễn biển câu chuyện được nghe:
    -Thời gian không gian được chứng kiến câu chuyện.
    1-Giới thiệu tóm tắt hoàn cảnh của lão Hạc: rất nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo, không lấy được vợ đã phẫn chí bỏ làng đi xa. Lão ở nha chờ con về, làm thuê để sống. Dù đỏi, lão quyết không bán đi mảnh vườn và ăn vảo tiền dành dụm do “bòn vườn”, lão giữ cả lại cho con trai. Nhưng một trận ốm dai dẳng, lào không còn sức đi làm thuê nữa. Thế là lão Hạc đi đến một quyết định quan trọng.
    2- Nội dung câu chuyện: Kể việc lão Hạc kể việc bản chỏ:
    - Nét mặt của lão Hạc: Sự đau khổ dằn vặt trong lúc kể việc bán chó: lão cố lảm ra vẻ vuí vỏ, nhưng trông lão cười như mếu và đôi mát lão ầng ậng nước, mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng của lão méu như con nít. Lão hu hu khóc”.
    -Nỗi ray rứt ân hận cùa lão Hạc trước thái độ trách móc của con chó mà lão cảm nhận được.
    -Việc lão nhờ ông giáo giữ hộ tiền để lo liệu khi lão chết, tránh làm phiền hàng xóm.
    3- Thái độ và ý kiến của ông giáo:
    Ẩn cần hỏi han, sẻ chia, an ủi: việc nuôi chó bán chó là điều bình thường, có khi lại lã việc hóa kiếp cho nó.
    -Đồng cảm với tâm trạng ray rứt của lão Hạc, muốn xoa dịu nỗi đau về thân phận khốn khổ cùa một kiếp người bằng cách gợi sự liên tưởng đến thân phận của người tri thức nghèo trong xã hội cũ.
    -Tạo niềm lạc quan cho người bạn già và cả chính mình bằng cách pha trò tiếp đãi đạm bạc: ăn khoai, uống chè, hút thuốc lào.
    -Hiểu nhân cách cao đẹp của lão bằng tấm lòng tri âm, tri kỉ, luôn tìm cách giúp lão vượt qua nỗi đau của thân phận để tồn tại.
    - Suy nghĩ của bản thân: (Liên hệ bản thân)
    C-Kết bài: Khái quát lại cảm xúc khi được chứng kiến cuộc trò chuyện.

     
    Gửi ý kiến