Chơi chữ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 04h:55' 29-10-2009
Dung lượng: 47.5 KB
Số lượt tải: 44
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 04h:55' 29-10-2009
Dung lượng: 47.5 KB
Số lượt tải: 44
Số lượt thích:
0 người
Chơi Chữ là một nghệ thuật, đòi hỏi phải nhanh trí và có một kiến thức rộng lớn. Đôi lúc đòi hỏi ở đầu óc dí dỏm, pha chút châm chọc, ngạo đời .....
bm trước khi vào đề xin định nghĩa về : 1- Chơi chữ là gì?
Là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước... làm câu văn hấp dẫn và lí thú Ngày xưa các cụ nhà ta thích dùng chữ để tả cảnh, tả tình, nhiều khi dùng chữ lắc léo để " móc " nhau, hoặc mĩa mai. Có những câu đố đọc lên rất tục, nhưng lúc giảng thì thanh như :" Da trắng vỗ bì bạch ". Hoặc nói lái nghe ra tục tĩu nhưng giảng thanh tao. Dùng cùng một vần, âm điệu giống nhau:
"Phất phất phóng phong phan, pháp phái phi phù, phù phụng Phật. Căng căng canh cổ kệ, ca cao kỉ cứu, cứu cùng kinh". ( Phất phất cờ phướng bay trước gió, đạo pháp làm phép đốt bùa, bùa thờ Phật ; Oanh oanh hòa giọng đọc kệ cổ, cất cao tiếng nghiền ngẩm kinh, nghiền ngẩm đến cùng .) Đó là câu chọc ghẹo ông sư móm và chú Tiểu ngọng của cụ Nguyễn Khuyến. Vậy chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt đặc biệt, sao cho ở đó song song tồn tại hai lượng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam. 2- Chơi chữ trong văn chương. Trong văn chương có hai lối chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ đựơc thể hiện trong văn bản và kiểu chơi chữ dựa vào tiền giả định là dữ kiện văn học, văn hóa. 2.1 Bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết. a- Mô phỏng âm thanh.
"Hu ta tồ hề! Tòng Xích Tùng chi tung tịch cốc ; Phu nhi tri hĩ! Trắc Hỗ Sơn chi trắc tùng bi." Nguyễn Khuyến. Hay một câu đố nhân gian, do đám học trò đến thăm thầy đồ, thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giường kêu ọt ẹt, các trò bấm nhau cười. Thầy thấy thẹn liền ra câu đối, nếu đối đựơc thì mới mở cửa : " Sĩ đáo ngọai gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì". Một anh nho sinh mới đối lại : " Sư ngọa trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt! " CÙNG ÂM. Nếu ai là người Huế, nhiều lúc trong câu nói có tính cách điệp âm, hay hiểu hai, ba nghĩa. Vi dụ : Một người bạn vào nhà, con chó xù nhe răng ra sủa. Cô chủ người Huế lớn tiếng bảo bạn : - Không RĂNG mô. - Răng : là cái răng ( nghĩa đen ) - Răng : là sao, chi, gì .... Thành ra câu trên người Nam sẽ nói :" Không gì đâu ". - Làm sao con chó cả hàm răng dữ thế lại bảo không răng mô hehe e e e Bài thơ của Tôn Thất Mỹ : Không răng đi nữa cũng không răng, Chỉ có thua người một miếng ăn. Miễn đựơc nguyên hàm nhai tóp tép, Không răng đi nữa cũng không răng. Ý bài thơ nói về chiếc răng của tác giả bị rụng. Nhưng đựơc tin Triều đình cho cho phục nguyên hàm tá lý, nhưng không hưởng lương ( Salary ). Nhưng Không răng " ( Không có răng ) đồng âm với " không răng " ( không sao - từ địa phương ). " Nguyên hàm " vừa có nghĩa là còn hàm răng nguyên vẹn để nhai, vừa có ý chỉ cái hàm ( Chức ) tá lý đựơc phục hồi sau khi bị tước đi. Người Việt có cái tài là dùng văn hóa của nước khác chế biến thành văn hóa mình. Những tiếng nước ngoài : - Cravat là cà - vạt. ( Cái nơ cổ) - Marcatheur là Mặt -ác- tệ ( Tên Mỹ ) - Westmoreland là vét- mỡ -lợn .( Tên Mỹ ) - Corset là cút - xê. ( Xu chiêng ) - En France là Ăng Phoong ( Sang Pháp ) - Canard là cá - nác ( Con vịt ) - Cochon là cô - soong ( Con lợn ) - La Poche là la - pốt ( Cái túi ) - L`argent `à lạc - giòong ( Tiền bạc ) - Au revoir là ô voa ( Tạm biệt ) - Bâton là batoong ( cái gậy ) - NHIỀU NGHĨA. Như Cha Mẹ đựơc gọi nhiều cách : - Cha : Ba = Bố= Tiá = Bọ = Dựơng = Thầy = Papa. Nhiều khi con khó
bm trước khi vào đề xin định nghĩa về : 1- Chơi chữ là gì?
Là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước... làm câu văn hấp dẫn và lí thú Ngày xưa các cụ nhà ta thích dùng chữ để tả cảnh, tả tình, nhiều khi dùng chữ lắc léo để " móc " nhau, hoặc mĩa mai. Có những câu đố đọc lên rất tục, nhưng lúc giảng thì thanh như :" Da trắng vỗ bì bạch ". Hoặc nói lái nghe ra tục tĩu nhưng giảng thanh tao. Dùng cùng một vần, âm điệu giống nhau:
"Phất phất phóng phong phan, pháp phái phi phù, phù phụng Phật. Căng căng canh cổ kệ, ca cao kỉ cứu, cứu cùng kinh". ( Phất phất cờ phướng bay trước gió, đạo pháp làm phép đốt bùa, bùa thờ Phật ; Oanh oanh hòa giọng đọc kệ cổ, cất cao tiếng nghiền ngẩm kinh, nghiền ngẩm đến cùng .) Đó là câu chọc ghẹo ông sư móm và chú Tiểu ngọng của cụ Nguyễn Khuyến. Vậy chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt đặc biệt, sao cho ở đó song song tồn tại hai lượng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam. 2- Chơi chữ trong văn chương. Trong văn chương có hai lối chơi chữ dựa vào các phương tiện ngôn ngữ đựơc thể hiện trong văn bản và kiểu chơi chữ dựa vào tiền giả định là dữ kiện văn học, văn hóa. 2.1 Bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết. a- Mô phỏng âm thanh.
"Hu ta tồ hề! Tòng Xích Tùng chi tung tịch cốc ; Phu nhi tri hĩ! Trắc Hỗ Sơn chi trắc tùng bi." Nguyễn Khuyến. Hay một câu đố nhân gian, do đám học trò đến thăm thầy đồ, thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giường kêu ọt ẹt, các trò bấm nhau cười. Thầy thấy thẹn liền ra câu đối, nếu đối đựơc thì mới mở cửa : " Sĩ đáo ngọai gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì". Một anh nho sinh mới đối lại : " Sư ngọa trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt! " CÙNG ÂM. Nếu ai là người Huế, nhiều lúc trong câu nói có tính cách điệp âm, hay hiểu hai, ba nghĩa. Vi dụ : Một người bạn vào nhà, con chó xù nhe răng ra sủa. Cô chủ người Huế lớn tiếng bảo bạn : - Không RĂNG mô. - Răng : là cái răng ( nghĩa đen ) - Răng : là sao, chi, gì .... Thành ra câu trên người Nam sẽ nói :" Không gì đâu ". - Làm sao con chó cả hàm răng dữ thế lại bảo không răng mô hehe e e e Bài thơ của Tôn Thất Mỹ : Không răng đi nữa cũng không răng, Chỉ có thua người một miếng ăn. Miễn đựơc nguyên hàm nhai tóp tép, Không răng đi nữa cũng không răng. Ý bài thơ nói về chiếc răng của tác giả bị rụng. Nhưng đựơc tin Triều đình cho cho phục nguyên hàm tá lý, nhưng không hưởng lương ( Salary ). Nhưng Không răng " ( Không có răng ) đồng âm với " không răng " ( không sao - từ địa phương ). " Nguyên hàm " vừa có nghĩa là còn hàm răng nguyên vẹn để nhai, vừa có ý chỉ cái hàm ( Chức ) tá lý đựơc phục hồi sau khi bị tước đi. Người Việt có cái tài là dùng văn hóa của nước khác chế biến thành văn hóa mình. Những tiếng nước ngoài : - Cravat là cà - vạt. ( Cái nơ cổ) - Marcatheur là Mặt -ác- tệ ( Tên Mỹ ) - Westmoreland là vét- mỡ -lợn .( Tên Mỹ ) - Corset là cút - xê. ( Xu chiêng ) - En France là Ăng Phoong ( Sang Pháp ) - Canard là cá - nác ( Con vịt ) - Cochon là cô - soong ( Con lợn ) - La Poche là la - pốt ( Cái túi ) - L`argent `à lạc - giòong ( Tiền bạc ) - Au revoir là ô voa ( Tạm biệt ) - Bâton là batoong ( cái gậy ) - NHIỀU NGHĨA. Như Cha Mẹ đựơc gọi nhiều cách : - Cha : Ba = Bố= Tiá = Bọ = Dựơng = Thầy = Papa. Nhiều khi con khó
 






Chia sẻ mới nhất