Ôn tập văn bản thuyết minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: NNCTT
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:12' 07-01-2022
Dung lượng: 322.2 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn: NNCTT
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:12' 07-01-2022
Dung lượng: 322.2 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP QUY NHƠN
TRƯỜNG THCS LƯƠNG THẾ VINH
MÔN NGỮ VĂN 9
Ôn tập, củng cố
và rèn luyện phần
TẬP LÀM văn
GV: LÊ VĂN BÌNH
NĂM HỌC: 2021 - 2022
ND1- VĂN THUYẾT MINH
ND2- VĂN TỰ SỰ
Ôn tập, củng cố
và rèn luyện phần văn
01
ND1- VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Văn thuyết minh:
Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng, nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các sự việc, hiện tượng trong tự nhiên
A. Ôn tập:
1.Khái niệm:
2.Yêu cầu:
-Cung cấp tri thức khách quan, xác thực, hữu ích về các sự vật.
-Trình bày rõ ràng, chặt chẽ
3.Phương pháp thuyết minh:
-Phương pháp nêu định nghĩa
-Phương pháp liệt kê
-Phương pháp nêu ví dụ
-Phương pháp dùng số liệu
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp phân loại phân tích
4.Sử dụng các biện pháp nghệ thuật:
ND1- VĂN BẢN THUYẾT MINH
-Gồm có: Ẩn dụ - Hoán dụ - Nhân hóa – So sánh – Kể chuyện – Đối đáp
-Tác dụng: Vận dụng thích hợp các biện pháp nghệ thuật sẽ làm nổi bật đặc điểm của đối tượng thuyết minh và bài văn thuyết minh trở nên hấp dẫn hơn, sinh động hơn
5. Sử dụng yếu tố miêu tả:
-Để thuyết minh một cách cụ thể, sinh động, bài văn thuyết minh có thể kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả
-Yếu tố miêu tả có tác dụng làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, gây ấn tượng.
A. Là văn bản dùng để trình bày sự việc, diễn biến, nhân vật theo một trật tự nhất định để dẫn đến một kết thú nhằm thuyết phục người đọc, người nghe
B. Là văn bản trình bày chi tiết, cụ thể cho ta cảm nhận được sự vật, con người một cách sinh động và cụ thể
C. Là văn bản trình bày những quan điểm, ý kiến thành những luận điểm
D. Là văn bản dùng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích đặc điểm, tính chất, ... của sự vật, hiện tượng
B. Bài tập rèn luyện:
1.Trắc nghiệm:
Câu 1: Văn bản thuyết minh là gì?
A. Cung cấp tri thức khách quan.
B. Phương thức biểu đạt là các phương pháp giới thiệu, giải thích.
C. Lời văn sử dụng rộng rãi các biện pháp tu từ.
D. Ngôn ngữ chính xác, khoa học, dễ hiểu.
2. Dòng nào nêu không đúng về đặc điểm cơ bản của văn thuyết minh?
A. Đem lại cho con người những tri thức mà con người chưa từng biết đến để hiểu biết và từ đó có thái độ, hành động đúng đắn
B. Đem lại cho con người những tri thức chính xác, khách quan về sự vật, hiện tượng để có thái độ, hành động đúng đắn
C. Đem lại cho con người những tri thức mới lạ để con người phát hiện ra cái hay, cái đẹp của những tri thức đó
D. Đem lại cho con người những tri thức tiêu biểu nhất để con người hiểu biết và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc về chúng
3. Nhận định nào nói đúng về mục đích của văn bản thuyết minh?
A. Chỉ sử dụng phương pháp so sánh, định nghĩa, giải thích
B. Chỉ sử dụng phương pháp nêu ví dụ, phân tích, phân loại
C. Chỉ sử dụng phương pháp liệt kê, dùng số liệu
D. Cần sử dụng phối hợp tất cả các phương pháp trên
4. Dòng nào nói đúng nhất các phương pháp sử dụng trong bài văn thuyết minh?
A. Nắm được yêu cầu của đề bài, phạm vi tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh.
B. Nắm được bố cục của bài văn thuyết minh gồm có 3 phần, mỗi phần có một nhiệm vụ riêng.
C. Nắm được yêu cầu của việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt học được cách phối hợp các phương pháp thuyết minh trong một bài viết.
D. Kết hợp cả 3 nội dung trên.
5. Ý nào nói đúng nhất bài học về cách làm bài văn thuyết minh?
A. Kể chuyện, tự thuật
B. Đối thoại theo lối ẩn dụ
C. Hình thức diễn vè, thơ ca
D. Tất cả các đáp án trên
6. Muốn cho văn bản thuyết minh hấp dẫn, sinh động, người ta vận dụng thêm một số biện pháp nghệ thuật nào?
Câu 7: Cho đoạn văn sau:
Tôi không biết có từ lúc nào, không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xưa. Từ khi con người biết trồng bông dệt vải may áo, chắc là phải cần kim để khâu áo. Làm ra cây kim lúc đầu hẳn là rất khó khăn, cho nên giờ mới có câu tục ngữ Có công mài sắt, có ngày nên kim. Họ nhà Kim chúng tôi rất đông. Ngoài kim khâu vải may áo, còn có loại kim dùng để thêu thùa, có kim khâu dùng trong phẫu thuật, kim khâu giày, kim đóng sách sách… Công dụng của kim là đưa chỉ mềm luồn qua các vật dày, mỏng để kết chúng lại. Thiếu chúng tôi thì ngành sản xuất gặp nhiều khó khăn đấy! Nghe nói từ cuối thế kỉ XVIII, một người Anh đã sáng chế ra máy khâu, nhưng máy khâu vẫn cứ phải có kim thì mới khâu được! Cùng họ Kim chúng tôi còn có cây kim châm cứu. Nó bé mà dài, làm bằng bạc, dùng để châm vào huyệt chữa bệnh. Những cây kim của ông Nguyễn Tài Thu đã nổi tiếng thế giới!
A. Thuyết minh
B. Nghị luận
C. Tự sự
D. Miêu tả
7a. Đoạn văn vừa trích sử dụng phương thức biểu đạt nào?
A. Phương pháp nêu ví dụ
B. Phương pháp so sánh
C. Phương pháp liệt kê
D. Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
7b: Phương pháp thuyết minh nào được sử dụng trong đoạn trích trên?
A. Miêu tả
B. Hoán dụ
C. Nghị luận
D. Nhân hoá
7c: Biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng để thuyết minh?
A. Khi thuyết minh sự các đặc điểm cụ thể, dễ thấy của đối tượng
B. Khi thuyết minh các đặc điểm trừu tượng không dễ thấy của đối tượng
C. Khi muốn cho văn bản sinh động và hấp dẫn
D. Khi muốn trình bày rõ diễn biến của sự việc, sự kiện
7d: Khi nào cần thuyết minh sự vật một cách hình tượng bóng bẩy?
Hãy đọc văn bản thuyết minh sau, dựa theo cuốn Bách khoa loài vật:
2.Tự luận:
“Trong các loài vật xung quanh ta có lẽ chẳng ai lạ gì con kiến. Thôi thì kiến vàng, kiến đen, kiến lửa,… ai mà chẳng biết ? Ấy thế nhưng mà kiến là một loài rất lạ !
Cái lạ thứ nhất : Kiến không có bộ não, không có mắt, không có tai, không có bộ phận phát âm, chỉ nhờ có xúc giác, thế mà cái gì nó cũng biết, lại còn lôi kéo cả đàn làm theo. Thức ăn, bánh kẹo, mật ong,… không cất cẩn thận thế nào nó cũng bu đến ! Đặc biệt, nó biết rõ thời tiết. Hễ động trời sắp mưa là nó biết ngay, lo tích thức ăn, bịt kín miệng tổ kiến.
Cái lạ thứ hai : Kiến rất khoẻ. Mỗi con kiến có thể mang một trọng lượng nhiều gấp 40 lần trọng lượng cơ thể nó. Trên thế giới này hẳn không có loài vật nào có được sức mạnh như thế. Đã thế kiến là loài vật ném không chết. Người ta đã ném con kiến từ độ cao gấp hàng nghìn lần cơ thể nó, vậy mà khi nó rơi xuống nó vẫn bình yên-bò đi như không !
Cái lạ thứ ba : Kiến là một kiến trúc sư tài ba. Bạn đã có dịp thấy tổ kiến chưa ? Nếu cắt ra mà xem mới thấy đó là một thành phố. có nhiều nhà cao tầng, đường đi lối lại thông suốt, trong đó có cung vua, có hậu cung, có nhà trẻ, kho lương thực, có nhà chung cư. Ở châu Phi có tổ kiến hình, trụ hoặc hình kim tự tháp cao mười mấy mét ! Chất liệu làm tổ chỉ là đất với nước bọt của chúng mà cũng rất chắc, dùng rìu chặt cũng không đứt !
Cái lạ thứ tư : Kiến là loài vật dũng cảm và hung dữ vào loại hiếm có. Nếu gặp địch thủ, dù to lớn thế nào, kiến đều xông vào chiến đấu, không sợ hi sinh, cho đến khi hạ gục đối thủ, hoặc là ăn ngay tại trận, hoặc là mang về tổ. Ó châu Mĩ, nhiều người bị kiến tấn công, tiêm nọc độc rồi trong chớp mắt, đàn kiến đông bu lại ăn hết thịt !
Kiến là động vật có hại vì nó hay làm tổ ở chân đê, gây vỡ đê những khi có lũ. Nhưng cũng có nơi lấy kiến làm thức ăn, nghe nói giá trị dinh dưỡng nhiều gấp ba lần thịt bò !
Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu loài kiến để hạn chế tác hại, lợi dụng các khả năng của chúng, nhằm mưu lợi cho con người”.
a) Đây là một văn bản thuyết minh về loài kiến. Em có thể đặt đầu đề cho văn bản sao cho đúng và hay.
b) Văn bản trên hấp dẫn người nghe nhờ nghệ thuật diễn tả như thế nào?
c) Thử vận dụng nghệ thuật nhân hoá, đóng vai một chú kiến, kể về loài của mình sao cho tự nhiên, sinh động, hấp dẫn.
a) Có thể đặt đầu đề :
+ Cái lạ của loài kiến
+ Hiểu biết về loài kiến
+ Giới thiệu loài kiến
b) Nhờ phối hợp các biện pháp nghệ thuật tả, kể, toàn bài còn sử dụng nghệ thuật liệt kê, khái quát nhấn mạnh: cái lạ của kiến để lôi cuốn người đọc, người nghe.
c) Có thể tưởng tượng về loài kiến qua đoạn văn : “Tôi là Kiến Đen trong vô số anh em họ nhà Kiến đông đảo của chúng tôi. Kiến tôi có mặt ở khắp mọi nơi và bản thân chúng tôi cũng thấy loài của mình cũng có nhiều điều kì lạ. Cái lạ thứ nhất là loài kiến chúng tôi không có bộ não, không có mắt, không có tai…
Bài tập 2: Đọc đoạn văn thuyết minh dưới đây và dựa vào nội dung ấy để nhập vào vai con ếch, tự giới thiệu về bản thân mình:
“Con ếch, có khi còn được gọi là “gà đồng” vì thịt nó ngon, thơm như thịt gà. Ếch là giống vật vừa ở trên cạn, vừa ở dưới nước. Lưng ếch có màu xanh lục hay màu nâu, pha một ít chấm đen. Khi ếch nấp trong bùn hay khóm cỏ, nếu ta không chú ý thì khó lòng mà nhận ra. Khi ở trên cạn, hễ gặp nguy hiểm, chỉ vài bước nhảy là ếch đã lặn xuống mặt nước, biến mất. Khi ở dưới nước mà gặp nguy hiểm, ếch nhanh chóng nhảy ra khỏi mặt nước để chui vào bụi cỏ ven bờ. Ếch tuy ở dưới nước nhưng thở bằng phổi và bằng da, còn tim ếch lại có nhiều hơn động vật khác một tâm thất,…”.
Ví dụ : “Tôi là Ếch đây, cũng có khi tôi còn được gọi là “Gà Đồng” vì thịt của họ nhà Ếch chúng tôi ngon và thơm lắm, chẳng khác gì thịt gà, các bạn ạ…”
“Mùa xuân, các loài hoa nở rộ, có chú Ong Nhỏ mới sáng ra đã bay tới vườn hoa hút mật. Chú làm việc say sưa đến lúc có tiếng gọi :
– Mau nghỉ thôi, chú em. Đến giờ ăn trưa rồi đấy !
Ong Nhỏ nhận ra đấy là tiếng chị Hoa Hướng Dương. Chú ngạc nhiên:
– Ơ, sao chị biết bây giờ là buổi trưa ?
Chị Hướng Dương cười vang :
– Thì tôi nhìn đồng hồ chứ sao !
Ong Nhỏ càng ngơ ngác hơn, vì rõ ràng ở vườn hoa làm gì có đồng hồ.
Đúng lúc đó, chim Sơn Ca bay tới. Đã nghe được câu chuyện của Hoa Hướng Dương và Ong Nhỏ, nên Sơn Ca bảo :
– Để tớ chỉ cho cậu cái đồng hồ ấy nhé. Nó chính là vườn hoa này đấy. Hoa Tường Vi nở vào lúc 5 giờ, hoa Thược Dược nở vào lúc 7 giờ, hoa Sen nở vào lúc 8 giờ. Còn hoa Mười Giờ thì dĩ nhiên nở vào… 10 giờ rồi…
Ong Nhỏ khoái quá, reo lên :
– Hay quá ! Thế là từ nay tớ đã biết nhìn hoa để xem giờ rồi !”
(Theo báo Hoạ mi số 52, 2002) ,
Bài tập 3. Cho câu chuyện sau :
a) Đọc xong câu chuyện trên, em hiểu biết thêm về điều gì?
b) Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Nếu cho rằng đây là văn bản thuyết minh thì người viết đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để tăng sự hấp dẫn của văn bản?
a) Tăng tri thức hiểu biết về giờ nở của các loài hoa.
b) Văn bản trên là văn bản thuyết minh nhưng có kết hợp nghệ thuật nhân hoá (các loại hoa, các loài chim) làm cho văn bản sinh động.
Bài tập 4. Đọc văn bản sau :
“Tam Thể là tên của chú mèo có bộ lông ba màu : đen, vàng, trắng. Chú ta rất giỏi bắt chuột. Nhưng rồi không hiểu tại sao, Tam Thể bỗng dưng không chịu bắt chuột nữa, ít leo trèo hẳn đi, và chỉ thích… nằm ngủ. Bé Tại Sao chán lắm.
– Úa ! Con đốt râu mèo à ? – Ba hỏi.
Bé Tại Sao giật mình.
– Dạ, không ạ !
– Thế tại sao râu mèo lại cụt xoắn lại thế này ?
Má ngồi bên chợt nhớ :
– Mấy hôm trước trời lạnh, chắc mèo vào bếp sưởi nên bị cháy râu rồi cũng nên !
Ba liền nói :
– Râu của mèo là cái “ăng ten”. Khi cần chui rúc để đuổi chuột, hai đầu chót của hai bẽn ria mà không bị vướng, thì thân mèo mới lọt, không bị vấp đau. Giờ, ria bị cụt, mèo chạy đâu vấp đó, nên sở, phải nằm chờ cho đến khi ria mọc dài ra như cũ, mới bắt chuột được !
– À ! Thì ra thế đấy. Tí nữa thì bé Tại Sao “ghét” oan cho Tam Thể”.
(Theo Phong Thu, báo Hoạ mi, số 19, 2005)
a) Văn bản trên có tính chất thuyết minh không? Tính chất ấy thể hiện ở những điểm nào? Những phương pháp thuyết minh nào đã được sử dụng?
b) Bài thuyết minh này có nét gì đặc biệt? Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
c) Các biện pháp nghệ thuật ở đây có tác dụng gì? Chúng có gây hứng thú và làm nổi bật nội dung cần thuyết minh hay không?
d) Em có suy nghĩ gì về tên của em bé trong văn bản trên ?
a) Văn bản trên có tính chất thuyết minh. Thể hiện ở kiến thức cần hiểu biết về bộ ria của mèo. Nhiều phương pháp thuyết minh đã được sử dụng biện pháp phối hợp, ví dụ như phương pháp giải thích.
b) Bài thuyết minh này đã được tạo thành câu chuyện kể để thể hiện tri thức cần thuyết minh.
c) Các biện pháp phối hợp khiến người nghe, người đọc thích thú hơn, nhất là đối với các bé.
d) Cái tên của em bé gợi ra một hướng khẳng định văn thuyết minh: Khi cần hiểu biết thì hay hỏi tại sao ?
Bài tập 5. Đọc văn bản sau :
“Không một người Thuỵ Điển nào, kể cả những ngôi sao thể thao hay nhạc pop, có thể nổi tiếng khắp thế giới bằng An-phrét Nô-ben. Những giải thưởng mang tên Nô-ben trao hằng năm được công nhận là những giải thưởng uy tín nhất thế giới. Vậy An-phrét Nô-ben là ai ?
Nô-ben chính là một nhà phát minh không biết mệt mỏi, một nhà doanh nghiệp và là một ông trùm công nghiệp toàn cầu. Bên cạnh đó, ông còn là một nhà ngôn ngữ học, triết học và là người theo chủ nghĩa nhân văn. Nhà hoá học Thuỵ Điển này đã có một tài sản khổng lồ nhờ việc phát minh ra thuốc nổ.
Nô-ben sinh năm 1833, là con trai của một kĩ sư. Cha của ông đã thành lập những xưởng chế tạo vũ khí ở Xanh Pê-téc-bua (nước Nga). Nô-ben và các anh em của ông được học tiếng Nga và tiếng Thuỵ Điển ở Nga.
Năm 20 tuổi, Nô-ben đã say mê ngành cơ học và hoá học. Ông đã đăng kí hai bằng sáng chế. Năm 1863 (30 tuổi), ông đi sâu nghiên cứu thuốc nổ. Vài năm sau, ông đã sáng chế ra một thứ chất nổ an toàn hơn. Và năm 1875 (42 tuổi), ông đăng kí sở hữu bằng sáng chế một chất nổ mạnh hơn nữa. Tiếp theo, Nô-ben phát’minh ra những chất nổ mới, không cho ra khói.
Nhờ sự thành công, Nô-ben làm chủ một gia tài khổng lồ. Ông có năm phòng thí nghiệm ở năm nước : Đức, Pháp, Xcốt-len, Thuỵ Điển, I-ta-li-a ; 90 xưởng sản xuất đặt trên 20 nước đã sử dụng khoảng 350 bằng sáng chế của ông và chế tạo khoảng 65.000 tấn chất nổ một năm. Ông là một nhà khoa học giàu nhất thế giới.
Nhưng Nô-ben lại vô cùng bất hạnh. Báo chí, dư luận khắp nơi oán trách ông đã làm giàu nhờ chế tạo ra thuốc súng – những bộ máy giết người. Nô-ben luôn thuyết phục mọi người rằng ông không bao giờ nghĩ đến chiến tranh. Ông chỉ có dụng ý sử dụng chất nổ để khai thác hầm mỏ và phục vụ cho các công trình dân sự. Nhưng những tiếng kêu oán thán khiến ông luôn day dứt tâm trí. Không gia đình, không vợ con, người giàu nhất châu Âu này đã lang thang trong cô đơn và chết bên cạnh người đầy tớ vào năm 1896, thọ 63 tuổi.
Trước khi qua đời, ông đã di chúc để lại gia tài khổng lồ của mình để hằng năm phát cho năm người đã giúp ích cho nhân loại trong các lĩnh vực : vật lí, hoá học, y học, văn chương và hoà bình trong năm ấy. Năm 1968 có thêm một giải thưởng Nô-ben nữa về khoa học kinh tế.
Năm 1901, những giải thưởng Nô-ben đầu tiên đã được trao. Và đến nay, hằng năm, cứ vào ngày 10-12 (ngày mất của Nô-ben), lễ trao thưởng mang tên ông lại được long trọng tổ chức tại thủ đô Xtốc-khôm hoặc thành phố Ô-xlô (Na Uy)”. (Theo báo Nhi đồng, số 41, 2005)
a) Có một cuộc tranh luận giữa Hùng và Nam.
Nam cho rằng : có thể sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như nhân hoá, tự thuật, kể chuyện, hoặc tình huống trò chuyện để nâng cao chất lượng văn bản trên, nhằm gây sự hấp dẫn với bạn đọc.
Nhưng Hùng lại không đồng ý, Hùng cho rằng văn bản giới thiệu một nhân vật lịch sử là một loại văn bản thuyết minh không sử dụng được các biện pháp nghệ thuật như Nam đã nêu. Và bạn Hùng còn nhấn mạnh thêm: chỉ có một số văn bản thuyết minh có tính chất phổ cập kiến thức hoặc một số văn bản-thuyết minh có tính chất văn học mới dễ dàng sử dụng các biện pháp nghệ thuật nêu trên. Văn bản thuyết minh về nhân vật lịch sử nổi tiếng An-phrét Nô-ben, không nằm trong loại sử dụng các biện pháp nghệ thuật.
Ý kiến của riêng em ra sao ? Hãy lí giải,.
Trả lời: Nhất trí với ý kiến bạn Hùng.
Bài tập 6: Đọc văn bản sau:
“Mùa xuân về rồi, những cây Lúa Non nho nhỏ trong ruộng lúa mọc ra rất nhiều những lá non xanh, khiến ai cũng thấy yêu yêu. Nhưng đáng ghét là bọn Cỏ Dại nấp ở dưới đất cũng trồi lên, chen chúc bên cạnh những cây Lúa Non.
Lúa Non bực lắm nói:
- Ôi, các anh làm sao mà cứ chen đẩy chúng tôi như vậy?
Cỏ Dại ngang ngạnh đáp:
- Sao? ở đây chỉ để cho bọn mi trú ngụ, còn bọn ta thì không à? Hừ, bọn ta muốn ở đâu thì ở, chẳng ai cấm được!
Cỏ Dại không những chen chúc, xô đẩy lung tung, mà còn kết bạn với nhau, bao vây xung quanh các cây Lúa Non. Chúng thét lên với những câỵ Lúa Non:
- Mau “giao nộp” những chất dinh dưỡng!
Những cây Lúa Non vươn lên, nói:
- Mọi người cần đến chúng tôi. Chúng tôi không thể giao chất dinh dưỡng cho các anh được!
Lũ Cỏ Dại đều là lũ vô lại, bèn đẩy tay, tóm chân tranh cướp đi không ít chất dinh dưỡng ở dưới những gốc cây Lúa Non. Dần dần, cỏ Dại mọc càng cao lên, còn những cây Lúa Non thì gầy, lùn, lá cây vàng ra, quăn lại!
Một hôm, có một trận mưa nhỏ từ không trung bay tới.
- Bạn là mưa gì mà sao mùi vị lại lạ thế ? - Những cây Lúa Non hỏi.
Một âm thanh mạnh mẽ vang lên :
- Tôi là Máy Phun Mù đây. Tôi tới khám bệnh, trị bệnh cho các bạn. Thứ hoá chất này không làm hại gì tới các bạn, xin các bạn cứ yên tâm!
Trận mưa nhỏ cứ không ngừng rơi xuống ruộng làm lũ cỏ Dại chết sạch. Những cây Lúa Non mừng rỡ cười vang !”.
(Theo báo Hoạ mi, số 14, 2005)
a) Văn bản đã giới thiệu với chúng ta cái Máy Phun Mù để trừ cỏ dại trong nghề trồng lúa. Vậy đây là văn bản thuyết minh hay tự sự ?
b) Văn bản trên đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Nêu tác dụng của sự kết hợp nghệ thuật ấy?
Bài tập 7: Đọc văn bản sau:
Trả lời:
a) Đây là văn bản thuyết minh.
b) Văn bản trên đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá kết hợp kể chuyện để tăng sức thuyết phục của kiến thức cần thuyết minh.
“Rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc nên biểu thị cho sự trường tồn. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt, nên được coi là con vật thanh cao, thoát tục. Chính vì tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt mà hình ảnh con rùa đội bia đá, trên bia đá đã ghi lại những câu chuyện lịch sử, danh nhân... thể hiện sự “tín nhiệm” của ông cha ta khi giao cho rùa việc lưu giữ văn hoá sử sách để nó trường tồn với thời gian và dân tộc. Hạc là loài chim quý, đối với người Việt dùng để tượng trưng cho đạo giáo thần tiên, ở đâu có hạc là ở đó có tiên (ví dụ hoa văn trang trí cảnh tiên cưỡi hạc). Do đó, hạc là biểu hiện cho sự tinh tuý, thanh cao. Hình ảnh hạc trên lưng rùa là mô típ quen thuộc trong đình chùa... thể hiện cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương.
Theo một câu chuyện truyền thuyết thì hạc và rùa là đôi bạn thân. Rùa tượng trưng cho con vật sống -dưới nước, biết bò. Hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng nước ngập úng để đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa được hạc đưa về vùng có nước. Câu chuyện này nói lên lòng chung thuỷ, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn của những người bạn tốt. Chính vì những ý nghĩ đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được người Việt đề cao, biểu thị cho khát vọng tốt đẹp, may mắn. Và chúng có một vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc, được sử dụng làm hình ảnh trang trí trong nhiều đền, chùa, miếu... ở Việt Nam”.
a) Nêu nội dung mà văn bản trên giới thiệu. Có thể khẳng định: đây là văn bản thuyết minh được không? Vì sao?
b) Có người cho rằng văn bản trên đã được đan xen các yếu tố tự sự và lập luận. Có đúng vậy không ? Vì sao?
c) Hãy đóng vai rùa (sau đó thử đóng vai hạc) tự kể lại nội dung văn bản trên.
->Trả lời:
a) Nội dung văn bản: Ý nghĩa tượng trưng sâu sắc của hình ảnh hạc và rùa trong các đền, chùa, miếu… ở Việt Nam.
Đây là văn bản thuyết minh. Vì văn bản giúp con người tăng thêm hiểu biết về văn hoá của người Việt qua hình ảnh chim hạc và rùa.
b) Đúng. Vì : yếu tố tự sự cần đưa vào khi kể về truyền thuyết đôi bạn thân (hạc và rùa) để làm rõ nội dung cần thuyết minh.
Yếu tố lập luận cần đưa vào để lí giải ý nghĩa tượng trưng sâu sắc của từng hình ảnh hạc, rùa và của cả sự kết hợp hình ảnh này.
c) Có thể dùng biện pháp nghệ thuật nhân hoá để đóng vai hạc và rùa kể lại nội dung văn bản trên.
(Ví dụ : – Người ta vẫn bảo họ nhà rùa ta có thân hình bò sát lưỡng cư. Loài rùa chúng ta có thân hình vững chắc, tuổi thọ lại cao, nên được biểu thị cho sự trường tồn…
– Họ nhà hạc chúng ta là loài chim quý, đó là điều mà chúng ta đây rất lấy làm tự hào. Đối với người Việt, loài hạc ta còn tượng trưng cho đạo giáo thần tiên. Ở đâu có chim hạc cao quý nhà ta, là ở đó có thần tiên…
Bài tập 8: Đọc văn bản sau:
“Trời oi bức quá. Gấu Nhỏ vừa ngủ trưa dậy, tụt từ từ xuống khỏi cây, ra sông tắm. Nó nhảy ùm xuống nước. Bàn chân vừa chạm tới đáy sông thì toàn thân nó như bị điện giật.
- Có quái vật ! - Gấu Nhỏ kinh hoàng bơi vào bờ, nhìn xuống mặt sông.
- Ai làm cá của tôi sợ chạy hết rồi ! - Một con Cá Đầu To nhô lên mặt nước nói.
- Ôi ! Xin lỗi ! Trời nóng quá, tôi muốn tắm cho mát thôi mà.
Cá Đầu To thấy Gấu. Nhỏ nói lễ độ như vậy, không nóng giận nữa, mà cười hì hì, nói :
- Chó lo lắng, bạn tiếp tục tắm đi. Tôi vừa dùng điện để bắt cá đấy mà.
Gấu Nhỏ ngạc nhiên hỏi :
- Trên người anh có điện à ?
Cá Đầu To tự hào nói :
- Tôi được gọi là Cá Điện. Điện áp trên thân thể tôi rất mạnh. Khi tôi phóng điện, động vật xung quanh cách mấy mét đều bị thương, hoặc bị chết. Qua việc phóng điện, tôi có thể tự bảo vệ mình và cũng là một cách để thu được thức ăn đấy!
Gấu Nhỏ lúc đó mới hiểu ra vì sao khi mình mới nhảy xuống nước, toàn thân lại bị tê tê ! Hoá ra là lúc ấy anh Cá Đầu To phóng điện ở trong nước”.
(Theo báo Họa Mi, số 16, 2005)
a) Có thể khẳng định rằng: đây là văn bản thuyết minh có sử dụng biện pháp nghệ thuật không? Vì sao?
b) Một trong các biện pháp nghệ thuật đã được dùng trong văn bản trên là: kể chuyện. Vậy theo em, có thể xác định ngôi kể được không?
c) Hãy tạo một văn bản thuyết minh về Cá “phóng điện”, nhưng đóng vai Gấu Nhỏ kể lại câu chuyện trên. So sánh văn bản mới tạo được và văn bản đã cho.
->Trả lời:
a) Có thể khẳng định được đây là văn bản thuyết minh có sử dụng nghệ thuật vì nó giúp người đọc, người nghe biết thêm về một loài cá trên trái đất : cá phóng điện.
b) Ngôi thứ ba.
c) Đóng vai Gấu nhỏ tự kể lại câu chuyện và so sánh.
Bài tập 9: Đọc hai văn bản sau:
Văn bản 1: “Gốc cây dừa lớn, tua tủa chùm rễ ăn sâu, bám chắc xuống đất. Trông thân dừa cao lớn như vậy, nhưng nó lại là một loại cây thân cỏ. ớ thân dừa có những khoanh tròn nối nhau. Dừa không có cành, mà chỉ có lá mọc trên ngọn. Lá mọc thành vòng tròn, xoè đều ra tứ phía. Có tàu dừa lớn tới hơn hai, ba mét. Lá dừa màu xanh bóng, mọc xuôi theo hai bẻn cuống lá. Mỗi lá dừa lại có nhiều khía, tách lá làm nhiều mảnh nhỏ. Từ các nách bẹ, từng chùm quả mập mạp, màu trắng sữa chìa ra, biến dần thành quả có màu xanh. Khi lớn bằng trái bưởi, mỗi cuống quả dừa lại mọc một cái râu dài, lúc đầu màu xanh, sau chuyển màu đen. Dừa mọc thành chùm. Quả tròn, phía đuôi hơi thon lại. Ngoài cùng của quả dừa là lớp xơ bao bọc. Trong là cùi dừa trắng tinh, béo ngậy. Nước dừa ngọt mát trong lành. Cây dừa cống hiến cho con người tất cả “của cải” của mình...”. (Trích)
Văn bản 2:
Cây dừa xanh toả nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra...
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.
(Trần Đăng Khoa, 1967)
Gạch dưới các yếu tố miêu tả trong hai văn bản trên. So sánh điểm giống và khác nhau giữa các yếu tố miêu tả trong hai văn bản ?
->Trả lời:
Hai văn bản đều nói về cây dừa.
– Văn bản a là văn bản thuyết minh về cây dừa.
– Văn bản b là văn bản nghệ thuật để diễn tả cây dừa (qua cây dừa bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ ; cây dừa đã được nhân hoá, tưởng tượng thêm…).
Bài tập 10: Tìm yếu tố miêu tả trong đoạn văn thuyết minh sau:
Hoa Sen xuất hiện từ rất lâu ở Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác. Có một số truyền thuyết cho rằng hoa sen có nguồn gốc từ Ai Cập cổ đại. Có giả thiết lại cho rằng cây sen là loại cây của các nước Đông Dương. Sen có tên khoa học là Nelumbo nucifera. Tên Hán Việt là liên, tên khác là thủy phù dung. Môi trường sống thường là ở những vùng đầm lầy, nhiều bùn đất. Phần thân rễ của sen mọc sâu dưới lớp bùn, dân gian thường gọi là củ sen, hình thuôn dài, xung quanh mọc ra các rễ nhỏ giúp cho gốc sen bám chắc vào đáy nước. Cuống lá có màu xanh thẫm, đường kính tầm 1-1.5cm, xung quanh có gai tù. Lá sen to, dày và trơn, không thấm nước, một lá bánh tẻ có đường kính từ 50 - 60cm. Hoa sen thường nở vào mùa hạ. Khi nở, các cánh hoa hé dần theo thứ tự, từ ngoài vào trong, tỏa tròn đều bao quanh lấy nhị và nhụy hoa ở giữa. Người ta phân loại dựa theo màu sắc của hoa: Sen hồng và sen trắng. Hoa sen dùng để trang trí, ngó sen có thể chế biến thành món ăn…
Bài tập 11: Viết bài văn hoặc đoạn văn thuyết minh đề tài tự chọn có sử dụng yếu tố miêu tả.
Gợi ý:
Nếu hoa đào là loài cây đặc trưng cho ngày tết ở miền Bắc, thì ở miền Nam đó chính là hoa mai. Hoa mai có rất nhiều loại, nhưng mai vàng là loại hoa được chơi nhiều hơn cả vào ngày tết.
Dáng của cây mai rất thẳng. Gốc mai cằn cỗi, xù xì lớp vỏ. Những đường gân rắn chắc nổi lên phô diễn sức mạnh của rễ cây. Cành cây trông khẳng khiu, gầy guộc. Còn thân cây lại cứng cáp, mạnh mẽ. Lá của cây mai thon dài như lá trà, mép lá có hình răng cưa. Lúc non lá có màu xanh phơn phớt hồng. Khi lớn hơn, lá sẽ có màu xanh đậm. Ba nói với em rằng, những ngày trước Tết, người ta thường tỉa những chiếc lá già để từ đó những chiếc lá non sẽ phát triển mạnh mẽ hơn. Đẹp nhất phải kể đến hoa mai. Những bông hoa có màu vàng, trông thật ấm áp dưới ánh nắng rực rỡ. Hoa mai thường nở thành từng chùm mọc ra từ thân cây, chùm hoa có cuống dài treo lơ lửng trên cành. Mỗi nụ hoa mai thường có từ 5 - 9 cánh, rất hiếm khi bắt gặp những bông hoa có đến 12 - 18 cánh.
Những cánh hoa mềm mai, mỏng manh được xếp đều trên đài hoa màu xanh khỏe khoắn tạo nên nét tương phản hài hòa làm nổi bậc sắc vàng tươi. Chính giữa là vài chiếc nhị hoa nhỏ xíu. Những bông hoa rung rinh dưới ánh nắng trông thật tuyệt vời. Đâu đó, tiếng chim ca líu lo như đang chào đón một mùa xuân nữa lại về.
Một cây mai đẹp cần đến sự chăm sóc cẩn thận của những người trồng mai. Họ thường chọn những hạt mai nhín mẩy, phơi khô rồi đem gieo vào đất ẩm, gieo trong chậu hoặc ngoài vườn. Mai là loài ưa ẩm và ưa sáng nhưng không chịu được úng. Vì vậy cần trồng cây mai nơi cao ráo và phải thường xuyên tưới nước cho cây. Nếu trồng trong chậu thì cần chú ý bón phân và thay đất hàng năm. Nếu chăm sóc tốt thì khoảng 5 - 7 năm mai có thể cho hoa. Khi cây mai lớn, muốn có một chậu hoa đẹp thì cần chú ý cắt nhánh, uốn cành, tạo thế để có được những chậu mai có hình dạng độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc, đậm chất triết lí Á Đông. Người trồng mai thường phải chú ý trút lá và canh thời tiết để mai có thể ra hoa đúng vào dịp Tết. Năm nào thời tiết nắng ấm thì trút lá trước Tết khoảng hai mươi lăm ngày. Năm nào rét đậm thì phải trút lá sớm hơn.
Không phải ngẫu nhiên mà hoa mai được coi là biểu tượng của ngày Tết. Mà bởi đây là loài hoa đem đến sự tài lộc, thịnh vượng và may mắn trong năm mới. Sắc mai vàng rực rỡ cũng tượng trưng cho sự sống, xua tan đi cái lạnh giá của mùa đông. Dáng mai thẳng đứng trông thật thanh cao, tượng trưng cho khí phách của người dân Việt từ ngàn đời nay. Đối với người dân sống ở miền Nam - việc có một cây mai trong nhà vào ngày Tết đã trở thành một “truyền thống” không thể thiếu, không thể bỏ.
Hoa mai đã trở thành biểu tượng của mùa xuân, của vẻ đẹp cao khiết và của tâm hồn người Việt Nam - thanh cao mà bình dị. Mỗi dịp Tết đến xuân về, hoa mai lại rực rỡ, tô điểm thêm cho sắc xuân
ND2- VĂN TỰ SỰ
TRƯỜNG THCS LƯƠNG THẾ VINH
MÔN NGỮ VĂN 9
Ôn tập, củng cố
và rèn luyện phần
TẬP LÀM văn
GV: LÊ VĂN BÌNH
NĂM HỌC: 2021 - 2022
ND1- VĂN THUYẾT MINH
ND2- VĂN TỰ SỰ
Ôn tập, củng cố
và rèn luyện phần văn
01
ND1- VĂN BẢN THUYẾT MINH
I. Văn thuyết minh:
Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng, nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các sự việc, hiện tượng trong tự nhiên
A. Ôn tập:
1.Khái niệm:
2.Yêu cầu:
-Cung cấp tri thức khách quan, xác thực, hữu ích về các sự vật.
-Trình bày rõ ràng, chặt chẽ
3.Phương pháp thuyết minh:
-Phương pháp nêu định nghĩa
-Phương pháp liệt kê
-Phương pháp nêu ví dụ
-Phương pháp dùng số liệu
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp phân loại phân tích
4.Sử dụng các biện pháp nghệ thuật:
ND1- VĂN BẢN THUYẾT MINH
-Gồm có: Ẩn dụ - Hoán dụ - Nhân hóa – So sánh – Kể chuyện – Đối đáp
-Tác dụng: Vận dụng thích hợp các biện pháp nghệ thuật sẽ làm nổi bật đặc điểm của đối tượng thuyết minh và bài văn thuyết minh trở nên hấp dẫn hơn, sinh động hơn
5. Sử dụng yếu tố miêu tả:
-Để thuyết minh một cách cụ thể, sinh động, bài văn thuyết minh có thể kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả
-Yếu tố miêu tả có tác dụng làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, gây ấn tượng.
A. Là văn bản dùng để trình bày sự việc, diễn biến, nhân vật theo một trật tự nhất định để dẫn đến một kết thú nhằm thuyết phục người đọc, người nghe
B. Là văn bản trình bày chi tiết, cụ thể cho ta cảm nhận được sự vật, con người một cách sinh động và cụ thể
C. Là văn bản trình bày những quan điểm, ý kiến thành những luận điểm
D. Là văn bản dùng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích đặc điểm, tính chất, ... của sự vật, hiện tượng
B. Bài tập rèn luyện:
1.Trắc nghiệm:
Câu 1: Văn bản thuyết minh là gì?
A. Cung cấp tri thức khách quan.
B. Phương thức biểu đạt là các phương pháp giới thiệu, giải thích.
C. Lời văn sử dụng rộng rãi các biện pháp tu từ.
D. Ngôn ngữ chính xác, khoa học, dễ hiểu.
2. Dòng nào nêu không đúng về đặc điểm cơ bản của văn thuyết minh?
A. Đem lại cho con người những tri thức mà con người chưa từng biết đến để hiểu biết và từ đó có thái độ, hành động đúng đắn
B. Đem lại cho con người những tri thức chính xác, khách quan về sự vật, hiện tượng để có thái độ, hành động đúng đắn
C. Đem lại cho con người những tri thức mới lạ để con người phát hiện ra cái hay, cái đẹp của những tri thức đó
D. Đem lại cho con người những tri thức tiêu biểu nhất để con người hiểu biết và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc về chúng
3. Nhận định nào nói đúng về mục đích của văn bản thuyết minh?
A. Chỉ sử dụng phương pháp so sánh, định nghĩa, giải thích
B. Chỉ sử dụng phương pháp nêu ví dụ, phân tích, phân loại
C. Chỉ sử dụng phương pháp liệt kê, dùng số liệu
D. Cần sử dụng phối hợp tất cả các phương pháp trên
4. Dòng nào nói đúng nhất các phương pháp sử dụng trong bài văn thuyết minh?
A. Nắm được yêu cầu của đề bài, phạm vi tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh.
B. Nắm được bố cục của bài văn thuyết minh gồm có 3 phần, mỗi phần có một nhiệm vụ riêng.
C. Nắm được yêu cầu của việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt học được cách phối hợp các phương pháp thuyết minh trong một bài viết.
D. Kết hợp cả 3 nội dung trên.
5. Ý nào nói đúng nhất bài học về cách làm bài văn thuyết minh?
A. Kể chuyện, tự thuật
B. Đối thoại theo lối ẩn dụ
C. Hình thức diễn vè, thơ ca
D. Tất cả các đáp án trên
6. Muốn cho văn bản thuyết minh hấp dẫn, sinh động, người ta vận dụng thêm một số biện pháp nghệ thuật nào?
Câu 7: Cho đoạn văn sau:
Tôi không biết có từ lúc nào, không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xưa. Từ khi con người biết trồng bông dệt vải may áo, chắc là phải cần kim để khâu áo. Làm ra cây kim lúc đầu hẳn là rất khó khăn, cho nên giờ mới có câu tục ngữ Có công mài sắt, có ngày nên kim. Họ nhà Kim chúng tôi rất đông. Ngoài kim khâu vải may áo, còn có loại kim dùng để thêu thùa, có kim khâu dùng trong phẫu thuật, kim khâu giày, kim đóng sách sách… Công dụng của kim là đưa chỉ mềm luồn qua các vật dày, mỏng để kết chúng lại. Thiếu chúng tôi thì ngành sản xuất gặp nhiều khó khăn đấy! Nghe nói từ cuối thế kỉ XVIII, một người Anh đã sáng chế ra máy khâu, nhưng máy khâu vẫn cứ phải có kim thì mới khâu được! Cùng họ Kim chúng tôi còn có cây kim châm cứu. Nó bé mà dài, làm bằng bạc, dùng để châm vào huyệt chữa bệnh. Những cây kim của ông Nguyễn Tài Thu đã nổi tiếng thế giới!
A. Thuyết minh
B. Nghị luận
C. Tự sự
D. Miêu tả
7a. Đoạn văn vừa trích sử dụng phương thức biểu đạt nào?
A. Phương pháp nêu ví dụ
B. Phương pháp so sánh
C. Phương pháp liệt kê
D. Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
7b: Phương pháp thuyết minh nào được sử dụng trong đoạn trích trên?
A. Miêu tả
B. Hoán dụ
C. Nghị luận
D. Nhân hoá
7c: Biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng để thuyết minh?
A. Khi thuyết minh sự các đặc điểm cụ thể, dễ thấy của đối tượng
B. Khi thuyết minh các đặc điểm trừu tượng không dễ thấy của đối tượng
C. Khi muốn cho văn bản sinh động và hấp dẫn
D. Khi muốn trình bày rõ diễn biến của sự việc, sự kiện
7d: Khi nào cần thuyết minh sự vật một cách hình tượng bóng bẩy?
Hãy đọc văn bản thuyết minh sau, dựa theo cuốn Bách khoa loài vật:
2.Tự luận:
“Trong các loài vật xung quanh ta có lẽ chẳng ai lạ gì con kiến. Thôi thì kiến vàng, kiến đen, kiến lửa,… ai mà chẳng biết ? Ấy thế nhưng mà kiến là một loài rất lạ !
Cái lạ thứ nhất : Kiến không có bộ não, không có mắt, không có tai, không có bộ phận phát âm, chỉ nhờ có xúc giác, thế mà cái gì nó cũng biết, lại còn lôi kéo cả đàn làm theo. Thức ăn, bánh kẹo, mật ong,… không cất cẩn thận thế nào nó cũng bu đến ! Đặc biệt, nó biết rõ thời tiết. Hễ động trời sắp mưa là nó biết ngay, lo tích thức ăn, bịt kín miệng tổ kiến.
Cái lạ thứ hai : Kiến rất khoẻ. Mỗi con kiến có thể mang một trọng lượng nhiều gấp 40 lần trọng lượng cơ thể nó. Trên thế giới này hẳn không có loài vật nào có được sức mạnh như thế. Đã thế kiến là loài vật ném không chết. Người ta đã ném con kiến từ độ cao gấp hàng nghìn lần cơ thể nó, vậy mà khi nó rơi xuống nó vẫn bình yên-bò đi như không !
Cái lạ thứ ba : Kiến là một kiến trúc sư tài ba. Bạn đã có dịp thấy tổ kiến chưa ? Nếu cắt ra mà xem mới thấy đó là một thành phố. có nhiều nhà cao tầng, đường đi lối lại thông suốt, trong đó có cung vua, có hậu cung, có nhà trẻ, kho lương thực, có nhà chung cư. Ở châu Phi có tổ kiến hình, trụ hoặc hình kim tự tháp cao mười mấy mét ! Chất liệu làm tổ chỉ là đất với nước bọt của chúng mà cũng rất chắc, dùng rìu chặt cũng không đứt !
Cái lạ thứ tư : Kiến là loài vật dũng cảm và hung dữ vào loại hiếm có. Nếu gặp địch thủ, dù to lớn thế nào, kiến đều xông vào chiến đấu, không sợ hi sinh, cho đến khi hạ gục đối thủ, hoặc là ăn ngay tại trận, hoặc là mang về tổ. Ó châu Mĩ, nhiều người bị kiến tấn công, tiêm nọc độc rồi trong chớp mắt, đàn kiến đông bu lại ăn hết thịt !
Kiến là động vật có hại vì nó hay làm tổ ở chân đê, gây vỡ đê những khi có lũ. Nhưng cũng có nơi lấy kiến làm thức ăn, nghe nói giá trị dinh dưỡng nhiều gấp ba lần thịt bò !
Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu loài kiến để hạn chế tác hại, lợi dụng các khả năng của chúng, nhằm mưu lợi cho con người”.
a) Đây là một văn bản thuyết minh về loài kiến. Em có thể đặt đầu đề cho văn bản sao cho đúng và hay.
b) Văn bản trên hấp dẫn người nghe nhờ nghệ thuật diễn tả như thế nào?
c) Thử vận dụng nghệ thuật nhân hoá, đóng vai một chú kiến, kể về loài của mình sao cho tự nhiên, sinh động, hấp dẫn.
a) Có thể đặt đầu đề :
+ Cái lạ của loài kiến
+ Hiểu biết về loài kiến
+ Giới thiệu loài kiến
b) Nhờ phối hợp các biện pháp nghệ thuật tả, kể, toàn bài còn sử dụng nghệ thuật liệt kê, khái quát nhấn mạnh: cái lạ của kiến để lôi cuốn người đọc, người nghe.
c) Có thể tưởng tượng về loài kiến qua đoạn văn : “Tôi là Kiến Đen trong vô số anh em họ nhà Kiến đông đảo của chúng tôi. Kiến tôi có mặt ở khắp mọi nơi và bản thân chúng tôi cũng thấy loài của mình cũng có nhiều điều kì lạ. Cái lạ thứ nhất là loài kiến chúng tôi không có bộ não, không có mắt, không có tai…
Bài tập 2: Đọc đoạn văn thuyết minh dưới đây và dựa vào nội dung ấy để nhập vào vai con ếch, tự giới thiệu về bản thân mình:
“Con ếch, có khi còn được gọi là “gà đồng” vì thịt nó ngon, thơm như thịt gà. Ếch là giống vật vừa ở trên cạn, vừa ở dưới nước. Lưng ếch có màu xanh lục hay màu nâu, pha một ít chấm đen. Khi ếch nấp trong bùn hay khóm cỏ, nếu ta không chú ý thì khó lòng mà nhận ra. Khi ở trên cạn, hễ gặp nguy hiểm, chỉ vài bước nhảy là ếch đã lặn xuống mặt nước, biến mất. Khi ở dưới nước mà gặp nguy hiểm, ếch nhanh chóng nhảy ra khỏi mặt nước để chui vào bụi cỏ ven bờ. Ếch tuy ở dưới nước nhưng thở bằng phổi và bằng da, còn tim ếch lại có nhiều hơn động vật khác một tâm thất,…”.
Ví dụ : “Tôi là Ếch đây, cũng có khi tôi còn được gọi là “Gà Đồng” vì thịt của họ nhà Ếch chúng tôi ngon và thơm lắm, chẳng khác gì thịt gà, các bạn ạ…”
“Mùa xuân, các loài hoa nở rộ, có chú Ong Nhỏ mới sáng ra đã bay tới vườn hoa hút mật. Chú làm việc say sưa đến lúc có tiếng gọi :
– Mau nghỉ thôi, chú em. Đến giờ ăn trưa rồi đấy !
Ong Nhỏ nhận ra đấy là tiếng chị Hoa Hướng Dương. Chú ngạc nhiên:
– Ơ, sao chị biết bây giờ là buổi trưa ?
Chị Hướng Dương cười vang :
– Thì tôi nhìn đồng hồ chứ sao !
Ong Nhỏ càng ngơ ngác hơn, vì rõ ràng ở vườn hoa làm gì có đồng hồ.
Đúng lúc đó, chim Sơn Ca bay tới. Đã nghe được câu chuyện của Hoa Hướng Dương và Ong Nhỏ, nên Sơn Ca bảo :
– Để tớ chỉ cho cậu cái đồng hồ ấy nhé. Nó chính là vườn hoa này đấy. Hoa Tường Vi nở vào lúc 5 giờ, hoa Thược Dược nở vào lúc 7 giờ, hoa Sen nở vào lúc 8 giờ. Còn hoa Mười Giờ thì dĩ nhiên nở vào… 10 giờ rồi…
Ong Nhỏ khoái quá, reo lên :
– Hay quá ! Thế là từ nay tớ đã biết nhìn hoa để xem giờ rồi !”
(Theo báo Hoạ mi số 52, 2002) ,
Bài tập 3. Cho câu chuyện sau :
a) Đọc xong câu chuyện trên, em hiểu biết thêm về điều gì?
b) Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Nếu cho rằng đây là văn bản thuyết minh thì người viết đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để tăng sự hấp dẫn của văn bản?
a) Tăng tri thức hiểu biết về giờ nở của các loài hoa.
b) Văn bản trên là văn bản thuyết minh nhưng có kết hợp nghệ thuật nhân hoá (các loại hoa, các loài chim) làm cho văn bản sinh động.
Bài tập 4. Đọc văn bản sau :
“Tam Thể là tên của chú mèo có bộ lông ba màu : đen, vàng, trắng. Chú ta rất giỏi bắt chuột. Nhưng rồi không hiểu tại sao, Tam Thể bỗng dưng không chịu bắt chuột nữa, ít leo trèo hẳn đi, và chỉ thích… nằm ngủ. Bé Tại Sao chán lắm.
– Úa ! Con đốt râu mèo à ? – Ba hỏi.
Bé Tại Sao giật mình.
– Dạ, không ạ !
– Thế tại sao râu mèo lại cụt xoắn lại thế này ?
Má ngồi bên chợt nhớ :
– Mấy hôm trước trời lạnh, chắc mèo vào bếp sưởi nên bị cháy râu rồi cũng nên !
Ba liền nói :
– Râu của mèo là cái “ăng ten”. Khi cần chui rúc để đuổi chuột, hai đầu chót của hai bẽn ria mà không bị vướng, thì thân mèo mới lọt, không bị vấp đau. Giờ, ria bị cụt, mèo chạy đâu vấp đó, nên sở, phải nằm chờ cho đến khi ria mọc dài ra như cũ, mới bắt chuột được !
– À ! Thì ra thế đấy. Tí nữa thì bé Tại Sao “ghét” oan cho Tam Thể”.
(Theo Phong Thu, báo Hoạ mi, số 19, 2005)
a) Văn bản trên có tính chất thuyết minh không? Tính chất ấy thể hiện ở những điểm nào? Những phương pháp thuyết minh nào đã được sử dụng?
b) Bài thuyết minh này có nét gì đặc biệt? Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
c) Các biện pháp nghệ thuật ở đây có tác dụng gì? Chúng có gây hứng thú và làm nổi bật nội dung cần thuyết minh hay không?
d) Em có suy nghĩ gì về tên của em bé trong văn bản trên ?
a) Văn bản trên có tính chất thuyết minh. Thể hiện ở kiến thức cần hiểu biết về bộ ria của mèo. Nhiều phương pháp thuyết minh đã được sử dụng biện pháp phối hợp, ví dụ như phương pháp giải thích.
b) Bài thuyết minh này đã được tạo thành câu chuyện kể để thể hiện tri thức cần thuyết minh.
c) Các biện pháp phối hợp khiến người nghe, người đọc thích thú hơn, nhất là đối với các bé.
d) Cái tên của em bé gợi ra một hướng khẳng định văn thuyết minh: Khi cần hiểu biết thì hay hỏi tại sao ?
Bài tập 5. Đọc văn bản sau :
“Không một người Thuỵ Điển nào, kể cả những ngôi sao thể thao hay nhạc pop, có thể nổi tiếng khắp thế giới bằng An-phrét Nô-ben. Những giải thưởng mang tên Nô-ben trao hằng năm được công nhận là những giải thưởng uy tín nhất thế giới. Vậy An-phrét Nô-ben là ai ?
Nô-ben chính là một nhà phát minh không biết mệt mỏi, một nhà doanh nghiệp và là một ông trùm công nghiệp toàn cầu. Bên cạnh đó, ông còn là một nhà ngôn ngữ học, triết học và là người theo chủ nghĩa nhân văn. Nhà hoá học Thuỵ Điển này đã có một tài sản khổng lồ nhờ việc phát minh ra thuốc nổ.
Nô-ben sinh năm 1833, là con trai của một kĩ sư. Cha của ông đã thành lập những xưởng chế tạo vũ khí ở Xanh Pê-téc-bua (nước Nga). Nô-ben và các anh em của ông được học tiếng Nga và tiếng Thuỵ Điển ở Nga.
Năm 20 tuổi, Nô-ben đã say mê ngành cơ học và hoá học. Ông đã đăng kí hai bằng sáng chế. Năm 1863 (30 tuổi), ông đi sâu nghiên cứu thuốc nổ. Vài năm sau, ông đã sáng chế ra một thứ chất nổ an toàn hơn. Và năm 1875 (42 tuổi), ông đăng kí sở hữu bằng sáng chế một chất nổ mạnh hơn nữa. Tiếp theo, Nô-ben phát’minh ra những chất nổ mới, không cho ra khói.
Nhờ sự thành công, Nô-ben làm chủ một gia tài khổng lồ. Ông có năm phòng thí nghiệm ở năm nước : Đức, Pháp, Xcốt-len, Thuỵ Điển, I-ta-li-a ; 90 xưởng sản xuất đặt trên 20 nước đã sử dụng khoảng 350 bằng sáng chế của ông và chế tạo khoảng 65.000 tấn chất nổ một năm. Ông là một nhà khoa học giàu nhất thế giới.
Nhưng Nô-ben lại vô cùng bất hạnh. Báo chí, dư luận khắp nơi oán trách ông đã làm giàu nhờ chế tạo ra thuốc súng – những bộ máy giết người. Nô-ben luôn thuyết phục mọi người rằng ông không bao giờ nghĩ đến chiến tranh. Ông chỉ có dụng ý sử dụng chất nổ để khai thác hầm mỏ và phục vụ cho các công trình dân sự. Nhưng những tiếng kêu oán thán khiến ông luôn day dứt tâm trí. Không gia đình, không vợ con, người giàu nhất châu Âu này đã lang thang trong cô đơn và chết bên cạnh người đầy tớ vào năm 1896, thọ 63 tuổi.
Trước khi qua đời, ông đã di chúc để lại gia tài khổng lồ của mình để hằng năm phát cho năm người đã giúp ích cho nhân loại trong các lĩnh vực : vật lí, hoá học, y học, văn chương và hoà bình trong năm ấy. Năm 1968 có thêm một giải thưởng Nô-ben nữa về khoa học kinh tế.
Năm 1901, những giải thưởng Nô-ben đầu tiên đã được trao. Và đến nay, hằng năm, cứ vào ngày 10-12 (ngày mất của Nô-ben), lễ trao thưởng mang tên ông lại được long trọng tổ chức tại thủ đô Xtốc-khôm hoặc thành phố Ô-xlô (Na Uy)”. (Theo báo Nhi đồng, số 41, 2005)
a) Có một cuộc tranh luận giữa Hùng và Nam.
Nam cho rằng : có thể sử dụng một số biện pháp nghệ thuật như nhân hoá, tự thuật, kể chuyện, hoặc tình huống trò chuyện để nâng cao chất lượng văn bản trên, nhằm gây sự hấp dẫn với bạn đọc.
Nhưng Hùng lại không đồng ý, Hùng cho rằng văn bản giới thiệu một nhân vật lịch sử là một loại văn bản thuyết minh không sử dụng được các biện pháp nghệ thuật như Nam đã nêu. Và bạn Hùng còn nhấn mạnh thêm: chỉ có một số văn bản thuyết minh có tính chất phổ cập kiến thức hoặc một số văn bản-thuyết minh có tính chất văn học mới dễ dàng sử dụng các biện pháp nghệ thuật nêu trên. Văn bản thuyết minh về nhân vật lịch sử nổi tiếng An-phrét Nô-ben, không nằm trong loại sử dụng các biện pháp nghệ thuật.
Ý kiến của riêng em ra sao ? Hãy lí giải,.
Trả lời: Nhất trí với ý kiến bạn Hùng.
Bài tập 6: Đọc văn bản sau:
“Mùa xuân về rồi, những cây Lúa Non nho nhỏ trong ruộng lúa mọc ra rất nhiều những lá non xanh, khiến ai cũng thấy yêu yêu. Nhưng đáng ghét là bọn Cỏ Dại nấp ở dưới đất cũng trồi lên, chen chúc bên cạnh những cây Lúa Non.
Lúa Non bực lắm nói:
- Ôi, các anh làm sao mà cứ chen đẩy chúng tôi như vậy?
Cỏ Dại ngang ngạnh đáp:
- Sao? ở đây chỉ để cho bọn mi trú ngụ, còn bọn ta thì không à? Hừ, bọn ta muốn ở đâu thì ở, chẳng ai cấm được!
Cỏ Dại không những chen chúc, xô đẩy lung tung, mà còn kết bạn với nhau, bao vây xung quanh các cây Lúa Non. Chúng thét lên với những câỵ Lúa Non:
- Mau “giao nộp” những chất dinh dưỡng!
Những cây Lúa Non vươn lên, nói:
- Mọi người cần đến chúng tôi. Chúng tôi không thể giao chất dinh dưỡng cho các anh được!
Lũ Cỏ Dại đều là lũ vô lại, bèn đẩy tay, tóm chân tranh cướp đi không ít chất dinh dưỡng ở dưới những gốc cây Lúa Non. Dần dần, cỏ Dại mọc càng cao lên, còn những cây Lúa Non thì gầy, lùn, lá cây vàng ra, quăn lại!
Một hôm, có một trận mưa nhỏ từ không trung bay tới.
- Bạn là mưa gì mà sao mùi vị lại lạ thế ? - Những cây Lúa Non hỏi.
Một âm thanh mạnh mẽ vang lên :
- Tôi là Máy Phun Mù đây. Tôi tới khám bệnh, trị bệnh cho các bạn. Thứ hoá chất này không làm hại gì tới các bạn, xin các bạn cứ yên tâm!
Trận mưa nhỏ cứ không ngừng rơi xuống ruộng làm lũ cỏ Dại chết sạch. Những cây Lúa Non mừng rỡ cười vang !”.
(Theo báo Hoạ mi, số 14, 2005)
a) Văn bản đã giới thiệu với chúng ta cái Máy Phun Mù để trừ cỏ dại trong nghề trồng lúa. Vậy đây là văn bản thuyết minh hay tự sự ?
b) Văn bản trên đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Nêu tác dụng của sự kết hợp nghệ thuật ấy?
Bài tập 7: Đọc văn bản sau:
Trả lời:
a) Đây là văn bản thuyết minh.
b) Văn bản trên đã sử dụng nghệ thuật nhân hoá kết hợp kể chuyện để tăng sức thuyết phục của kiến thức cần thuyết minh.
“Rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc nên biểu thị cho sự trường tồn. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt, nên được coi là con vật thanh cao, thoát tục. Chính vì tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt mà hình ảnh con rùa đội bia đá, trên bia đá đã ghi lại những câu chuyện lịch sử, danh nhân... thể hiện sự “tín nhiệm” của ông cha ta khi giao cho rùa việc lưu giữ văn hoá sử sách để nó trường tồn với thời gian và dân tộc. Hạc là loài chim quý, đối với người Việt dùng để tượng trưng cho đạo giáo thần tiên, ở đâu có hạc là ở đó có tiên (ví dụ hoa văn trang trí cảnh tiên cưỡi hạc). Do đó, hạc là biểu hiện cho sự tinh tuý, thanh cao. Hình ảnh hạc trên lưng rùa là mô típ quen thuộc trong đình chùa... thể hiện cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương.
Theo một câu chuyện truyền thuyết thì hạc và rùa là đôi bạn thân. Rùa tượng trưng cho con vật sống -dưới nước, biết bò. Hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng nước ngập úng để đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa được hạc đưa về vùng có nước. Câu chuyện này nói lên lòng chung thuỷ, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn của những người bạn tốt. Chính vì những ý nghĩ đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được người Việt đề cao, biểu thị cho khát vọng tốt đẹp, may mắn. Và chúng có một vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc, được sử dụng làm hình ảnh trang trí trong nhiều đền, chùa, miếu... ở Việt Nam”.
a) Nêu nội dung mà văn bản trên giới thiệu. Có thể khẳng định: đây là văn bản thuyết minh được không? Vì sao?
b) Có người cho rằng văn bản trên đã được đan xen các yếu tố tự sự và lập luận. Có đúng vậy không ? Vì sao?
c) Hãy đóng vai rùa (sau đó thử đóng vai hạc) tự kể lại nội dung văn bản trên.
->Trả lời:
a) Nội dung văn bản: Ý nghĩa tượng trưng sâu sắc của hình ảnh hạc và rùa trong các đền, chùa, miếu… ở Việt Nam.
Đây là văn bản thuyết minh. Vì văn bản giúp con người tăng thêm hiểu biết về văn hoá của người Việt qua hình ảnh chim hạc và rùa.
b) Đúng. Vì : yếu tố tự sự cần đưa vào khi kể về truyền thuyết đôi bạn thân (hạc và rùa) để làm rõ nội dung cần thuyết minh.
Yếu tố lập luận cần đưa vào để lí giải ý nghĩa tượng trưng sâu sắc của từng hình ảnh hạc, rùa và của cả sự kết hợp hình ảnh này.
c) Có thể dùng biện pháp nghệ thuật nhân hoá để đóng vai hạc và rùa kể lại nội dung văn bản trên.
(Ví dụ : – Người ta vẫn bảo họ nhà rùa ta có thân hình bò sát lưỡng cư. Loài rùa chúng ta có thân hình vững chắc, tuổi thọ lại cao, nên được biểu thị cho sự trường tồn…
– Họ nhà hạc chúng ta là loài chim quý, đó là điều mà chúng ta đây rất lấy làm tự hào. Đối với người Việt, loài hạc ta còn tượng trưng cho đạo giáo thần tiên. Ở đâu có chim hạc cao quý nhà ta, là ở đó có thần tiên…
Bài tập 8: Đọc văn bản sau:
“Trời oi bức quá. Gấu Nhỏ vừa ngủ trưa dậy, tụt từ từ xuống khỏi cây, ra sông tắm. Nó nhảy ùm xuống nước. Bàn chân vừa chạm tới đáy sông thì toàn thân nó như bị điện giật.
- Có quái vật ! - Gấu Nhỏ kinh hoàng bơi vào bờ, nhìn xuống mặt sông.
- Ai làm cá của tôi sợ chạy hết rồi ! - Một con Cá Đầu To nhô lên mặt nước nói.
- Ôi ! Xin lỗi ! Trời nóng quá, tôi muốn tắm cho mát thôi mà.
Cá Đầu To thấy Gấu. Nhỏ nói lễ độ như vậy, không nóng giận nữa, mà cười hì hì, nói :
- Chó lo lắng, bạn tiếp tục tắm đi. Tôi vừa dùng điện để bắt cá đấy mà.
Gấu Nhỏ ngạc nhiên hỏi :
- Trên người anh có điện à ?
Cá Đầu To tự hào nói :
- Tôi được gọi là Cá Điện. Điện áp trên thân thể tôi rất mạnh. Khi tôi phóng điện, động vật xung quanh cách mấy mét đều bị thương, hoặc bị chết. Qua việc phóng điện, tôi có thể tự bảo vệ mình và cũng là một cách để thu được thức ăn đấy!
Gấu Nhỏ lúc đó mới hiểu ra vì sao khi mình mới nhảy xuống nước, toàn thân lại bị tê tê ! Hoá ra là lúc ấy anh Cá Đầu To phóng điện ở trong nước”.
(Theo báo Họa Mi, số 16, 2005)
a) Có thể khẳng định rằng: đây là văn bản thuyết minh có sử dụng biện pháp nghệ thuật không? Vì sao?
b) Một trong các biện pháp nghệ thuật đã được dùng trong văn bản trên là: kể chuyện. Vậy theo em, có thể xác định ngôi kể được không?
c) Hãy tạo một văn bản thuyết minh về Cá “phóng điện”, nhưng đóng vai Gấu Nhỏ kể lại câu chuyện trên. So sánh văn bản mới tạo được và văn bản đã cho.
->Trả lời:
a) Có thể khẳng định được đây là văn bản thuyết minh có sử dụng nghệ thuật vì nó giúp người đọc, người nghe biết thêm về một loài cá trên trái đất : cá phóng điện.
b) Ngôi thứ ba.
c) Đóng vai Gấu nhỏ tự kể lại câu chuyện và so sánh.
Bài tập 9: Đọc hai văn bản sau:
Văn bản 1: “Gốc cây dừa lớn, tua tủa chùm rễ ăn sâu, bám chắc xuống đất. Trông thân dừa cao lớn như vậy, nhưng nó lại là một loại cây thân cỏ. ớ thân dừa có những khoanh tròn nối nhau. Dừa không có cành, mà chỉ có lá mọc trên ngọn. Lá mọc thành vòng tròn, xoè đều ra tứ phía. Có tàu dừa lớn tới hơn hai, ba mét. Lá dừa màu xanh bóng, mọc xuôi theo hai bẻn cuống lá. Mỗi lá dừa lại có nhiều khía, tách lá làm nhiều mảnh nhỏ. Từ các nách bẹ, từng chùm quả mập mạp, màu trắng sữa chìa ra, biến dần thành quả có màu xanh. Khi lớn bằng trái bưởi, mỗi cuống quả dừa lại mọc một cái râu dài, lúc đầu màu xanh, sau chuyển màu đen. Dừa mọc thành chùm. Quả tròn, phía đuôi hơi thon lại. Ngoài cùng của quả dừa là lớp xơ bao bọc. Trong là cùi dừa trắng tinh, béo ngậy. Nước dừa ngọt mát trong lành. Cây dừa cống hiến cho con người tất cả “của cải” của mình...”. (Trích)
Văn bản 2:
Cây dừa xanh toả nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
Ai mang nước ngọt nước lành
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra...
Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.
(Trần Đăng Khoa, 1967)
Gạch dưới các yếu tố miêu tả trong hai văn bản trên. So sánh điểm giống và khác nhau giữa các yếu tố miêu tả trong hai văn bản ?
->Trả lời:
Hai văn bản đều nói về cây dừa.
– Văn bản a là văn bản thuyết minh về cây dừa.
– Văn bản b là văn bản nghệ thuật để diễn tả cây dừa (qua cây dừa bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ ; cây dừa đã được nhân hoá, tưởng tượng thêm…).
Bài tập 10: Tìm yếu tố miêu tả trong đoạn văn thuyết minh sau:
Hoa Sen xuất hiện từ rất lâu ở Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác. Có một số truyền thuyết cho rằng hoa sen có nguồn gốc từ Ai Cập cổ đại. Có giả thiết lại cho rằng cây sen là loại cây của các nước Đông Dương. Sen có tên khoa học là Nelumbo nucifera. Tên Hán Việt là liên, tên khác là thủy phù dung. Môi trường sống thường là ở những vùng đầm lầy, nhiều bùn đất. Phần thân rễ của sen mọc sâu dưới lớp bùn, dân gian thường gọi là củ sen, hình thuôn dài, xung quanh mọc ra các rễ nhỏ giúp cho gốc sen bám chắc vào đáy nước. Cuống lá có màu xanh thẫm, đường kính tầm 1-1.5cm, xung quanh có gai tù. Lá sen to, dày và trơn, không thấm nước, một lá bánh tẻ có đường kính từ 50 - 60cm. Hoa sen thường nở vào mùa hạ. Khi nở, các cánh hoa hé dần theo thứ tự, từ ngoài vào trong, tỏa tròn đều bao quanh lấy nhị và nhụy hoa ở giữa. Người ta phân loại dựa theo màu sắc của hoa: Sen hồng và sen trắng. Hoa sen dùng để trang trí, ngó sen có thể chế biến thành món ăn…
Bài tập 11: Viết bài văn hoặc đoạn văn thuyết minh đề tài tự chọn có sử dụng yếu tố miêu tả.
Gợi ý:
Nếu hoa đào là loài cây đặc trưng cho ngày tết ở miền Bắc, thì ở miền Nam đó chính là hoa mai. Hoa mai có rất nhiều loại, nhưng mai vàng là loại hoa được chơi nhiều hơn cả vào ngày tết.
Dáng của cây mai rất thẳng. Gốc mai cằn cỗi, xù xì lớp vỏ. Những đường gân rắn chắc nổi lên phô diễn sức mạnh của rễ cây. Cành cây trông khẳng khiu, gầy guộc. Còn thân cây lại cứng cáp, mạnh mẽ. Lá của cây mai thon dài như lá trà, mép lá có hình răng cưa. Lúc non lá có màu xanh phơn phớt hồng. Khi lớn hơn, lá sẽ có màu xanh đậm. Ba nói với em rằng, những ngày trước Tết, người ta thường tỉa những chiếc lá già để từ đó những chiếc lá non sẽ phát triển mạnh mẽ hơn. Đẹp nhất phải kể đến hoa mai. Những bông hoa có màu vàng, trông thật ấm áp dưới ánh nắng rực rỡ. Hoa mai thường nở thành từng chùm mọc ra từ thân cây, chùm hoa có cuống dài treo lơ lửng trên cành. Mỗi nụ hoa mai thường có từ 5 - 9 cánh, rất hiếm khi bắt gặp những bông hoa có đến 12 - 18 cánh.
Những cánh hoa mềm mai, mỏng manh được xếp đều trên đài hoa màu xanh khỏe khoắn tạo nên nét tương phản hài hòa làm nổi bậc sắc vàng tươi. Chính giữa là vài chiếc nhị hoa nhỏ xíu. Những bông hoa rung rinh dưới ánh nắng trông thật tuyệt vời. Đâu đó, tiếng chim ca líu lo như đang chào đón một mùa xuân nữa lại về.
Một cây mai đẹp cần đến sự chăm sóc cẩn thận của những người trồng mai. Họ thường chọn những hạt mai nhín mẩy, phơi khô rồi đem gieo vào đất ẩm, gieo trong chậu hoặc ngoài vườn. Mai là loài ưa ẩm và ưa sáng nhưng không chịu được úng. Vì vậy cần trồng cây mai nơi cao ráo và phải thường xuyên tưới nước cho cây. Nếu trồng trong chậu thì cần chú ý bón phân và thay đất hàng năm. Nếu chăm sóc tốt thì khoảng 5 - 7 năm mai có thể cho hoa. Khi cây mai lớn, muốn có một chậu hoa đẹp thì cần chú ý cắt nhánh, uốn cành, tạo thế để có được những chậu mai có hình dạng độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc, đậm chất triết lí Á Đông. Người trồng mai thường phải chú ý trút lá và canh thời tiết để mai có thể ra hoa đúng vào dịp Tết. Năm nào thời tiết nắng ấm thì trút lá trước Tết khoảng hai mươi lăm ngày. Năm nào rét đậm thì phải trút lá sớm hơn.
Không phải ngẫu nhiên mà hoa mai được coi là biểu tượng của ngày Tết. Mà bởi đây là loài hoa đem đến sự tài lộc, thịnh vượng và may mắn trong năm mới. Sắc mai vàng rực rỡ cũng tượng trưng cho sự sống, xua tan đi cái lạnh giá của mùa đông. Dáng mai thẳng đứng trông thật thanh cao, tượng trưng cho khí phách của người dân Việt từ ngàn đời nay. Đối với người dân sống ở miền Nam - việc có một cây mai trong nhà vào ngày Tết đã trở thành một “truyền thống” không thể thiếu, không thể bỏ.
Hoa mai đã trở thành biểu tượng của mùa xuân, của vẻ đẹp cao khiết và của tâm hồn người Việt Nam - thanh cao mà bình dị. Mỗi dịp Tết đến xuân về, hoa mai lại rực rỡ, tô điểm thêm cho sắc xuân
ND2- VĂN TỰ SỰ
 






Chia sẻ mới nhất