Vào 10 Bình Định 2019-2020

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: NNCTT
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:41' 05-06-2019
Dung lượng: 74.5 KB
Số lượt tải: 21
Nguồn: NNCTT
Người gửi: Lê Văn Bình (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:41' 05-06-2019
Dung lượng: 74.5 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
0 người
Đề thi, Đáp án vào lớp 10 năm 2019 Sở GD Bình Định môn Ngữ Văn
Ngày thi: 05/6/2019
Thài gian làm bài 120 phút .
Phần I: (4.0 điểm).
Đọc đoạn trich sau và trá lời các câu hòi bên duới:
2.10.1971
Nhiều lúc mình cũng không ngờ nồi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngói sao.Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đài bộ dội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá, và cũng đột ngột quá.
Thế là thề nào? Cách đây ít lâu minh còn lù sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngáy căp sách lên giảng đường nghe thầy Đường, thầy Đạo…Không biết bao giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế . Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi.Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu ? Chỉ còm cõi vì trang sách gầy xác đi vì mông mị hảo huyền
28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được nhiều diều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lóng mình, soát lại long mình.
Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, tù lúc nào ? Có lẽ từ 9.3.71. tháng ba cùa hoa nhãn ban trưa, cùa hoa sấu. hoa bằng lăng nước.
(...) Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là ngôi sao Hôm yêu dấu... Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao áy, ánh lửa cầu vòng của trận công đồn. màu dó của lửa. của máu...
Ta như thấy trong màu ki diệu áy có có hồng cầu cùa trài tim ta.
(Trích Mãi măi tuồi hai mươi, Nhật kí của của liệt sĩ Nguyền Văn Thạc. NXB Thanh niên)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt trong đoạn trích? Nội dung của đoạn trích trên nó về vấn đề gì?
Câu 2: Tại sao tác giả viết: “Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu”? Đoạn trích gửi đến thông điệp gì cho giới trẻ?
Câu 3: Viết một đoạn văn ngắn bàn về chủ đề : Học đi đôi với hành.
Phần II: (6.0 điểm)
Cảm nhận về vẻ đcp của đoản thuyền đánh cá qua khồ tho đầu và khổ tho cuối trong bài tho "Đoàn thuyền đánh cá" cùa Huy Cận:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then,đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới... Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi” ĐÁP ÁN:
PHẦN I:
Câu 1: Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
-ND đoạn trích: Những suy ngẫm của anh hung Nguyễn Văn Thạc về tuổi trẻ của mình khi mới vào quân ngũ 28 ngày.Qua đó, nhận thức về tầm quan trọng của mqh giữa việc học với việc sống có ích có ý nghĩa
Câu 2: Tg viết “ Học bao lâu mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu?”Vì đặt trong hoàn cảnh của NVT, sống trong những ngày kháng chiến chống Mỹ xâm lược, anh được học rất nhiều kiến thức sách vở nhưng đó chỉ là lí thuyết chưa giúp được gì cho việc cứu nước.
a/ Yêu cầu về HT :
-Đảm bảo cẩu trúc đoạn văn nghị luận
Trình bày đủ các phẩn Mở đoạn. Thân đoạn, Kết đoạn. Phẩn Mớ đoạn biết dẫn dẳt hợp li và nêu dược vấn dề: Thân đoạn biết triển khai liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề: Kết đọan chốt lại được vấn đề và thể hiện được nhận thúc của bản thân .
-Không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, dùng từ, dặt câu.
b/Xác định được đúng vẩn dề cần nghị luận: Học đi đôi với hành.
c/Yêu cầu về nội dung:
Chia vấn đề cần nghi luận thành các ý phù hợp: các ý được trìển khai theo trinh tự hợp lí có sự liên kểt chặt chẽ, biết kểt hợp giữa nêu lí lẽ và dần chứng; dẫn chửng phải lấy từ thực tiền đời sổng, cụ thể và sinh động.
Học sinh cỏ thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rỏ những ý cơ bản sau:
-Giải thích:
+ Học: học lí thuyết, tích lũy tri thức.
+ Hành: thực hành, trãi nghiêm, bién li thuyết thành thực hành thực tế.
-> Học đi đôi với hành là cách học đúng đắng, cần phai thực hiên.
Vi sao cần thực hiên Học đi đôi với hành ?
+ Kiến thức sách vở chi là lí thuyết, nếu chỉ học không thì không áp dụng được, lâu dần sẽ dần đến quên lãng.
+ Khi thực hành thi hiểu dược lí thuyết hơn, cám thấy việc học có ích, có ý nghĩa, áp dụng được vào cuộc sống.
+ Nếu chi học mà không hành thi giống như một cái máy, nếu thực hành mà không rỏ điều cơ bản thi dễ gây ra hỏng. sai, gây lãng phí.
Biểu hiện học di đôi với hành:
- Học lí thuyết rồi mới làm bài tập thực hành
-Tiẽp thu ảnh hướng từ bên ngoài nhưng phải vận dụng phù hợp, sáng tạo vào tình hình trong nước để không kệch cỡm, học đòi.
- Quá trình thực hành giúp bổ sung những tri thức chưa biêt.
-Phản đề:
+ Có những người không di đôi học với hành
- Khi chi học mà không thực hành thì dẫn đến không hiêu, không áp dụng dược vào thực tế.
- Chi thực hành bằng bản năng mà không tích lùy kiên thức thì tốn thời gian, công sức...
-Liên hệ bản thân
PHẦN II.
a/Yêu cẩu về hình thức
Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Trình bày đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài :Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu dược vấn dề: Thân bài bièt triên khai liên kèt chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vàn đê: Kêt bài chốt lại dược vắn đề và thể hiện dược nhân thức của bản thân.
-Không mắc lồi diễn dạt, chinh tả, dùng từ, dặt câu
b/Xác dịnh được dúng vấn dề cần nghị luận: Cảm nhận vẻ đẹp của đoàn thuyên đánh cá qua khổ đầu và khổ cuối trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” – Huy Cận.
c/Yêu cầu về nội dung
Chia vấn dề cần nghị luận thành các ý phù hợp; các ý dược triền khai theo trinh tự hợp lí có sự liên két chặt chẽ, biết kết hợp giừa nêu lí lẽ và dẫn chứng; dẫn chứng phái lấy từ thực tiền đời sổng, cụ thể và sinh dộng.
Học sinh có thề trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rõ nhửng ý cơ bản sau:
1/ Giới thiệu chung:
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biêu của phong tràảo Thơ mới với những tác phẩm nổi tiêng như Lửa thiêng, Vũ trụ ca,... Sau Cách mạng, ông nhanh chóng hòa nhập vào công cuộc kháng chiên vĩ đại cùa dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược. Hòa bình lập lại từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thờ cùa cuộc sống mới dang lên.
Bài thơ ”Đoàn thuyền dành cá" nằm trong tập Trời mỗi ngày lại sáng”, dược sảng tác ở Hòn Gai, năm 1958, nhân một chuyên tác giả di thực tế dài ngày. Ra đời giũa bôi cảnh miên Băc mới hoà bình, đi lên xảy dựng chủ nghĩa xà hội, nhản dân thực sự dược làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước, bài thơ dược dánh giá là một trong những bài thơ hay của thơ ca Việt Nam hiện đại.
-Khổ dầu và khổ cuối tao thành một vòng thời gian từ khi đoàn thuyền đánh cả ra khơi đến khi trở vể.
2/ Phận tích:
a/ khố dầu - Cành doàn thuyền ra khơi:
*Được xây dựng trên nền của một buổi hoàng hôn tuỵệt dẹp.
-Hình ảnh so sánh độc đảo trong cảu 1: "Mặt trời xuong biẻn như hòn lừa" tái hiện một không gian kì vì, tráng lệ của cánh hoảng hôn trên biền.
- Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền dang ra khơi.
+Thời gian: hoàng hôn -> sự vận động của thời gian.
+ Quang cảnh hùng vì cùa bầu trời lúc chiêu tà -> vẻ đẹp kì vì, tráng lệ của cánh hoàng hôn trên biên.
-Biện pháp tu lừ nhân hóa ở câu 2: "Sóng đả cài then đêm sập cứa "
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực: nhửng con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vù trụ. Bống đêm "sập cửa ” gợi khỏanh khắc mặt trời vụt tăt và màn đêm bât ngờ buông xuông bao trùm tât cà.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vần gần gùi, ẩm áp như ngôi nhà của con người.
*Hình ảnh doàn thuyền dành cả ra khơi:
-Chữ "lại " vừa chi một sự kiện lập di lập lại vừa chi sự trái chiều vì khi vũ trụ da ket thúc một ngày dài để lặng vào yên nghi thì doàn thuyên đánh cá lại băt dâu một cuộc lao động mới -> Gợi một nhịp sống thanh binh của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh con người Việt Nam mởi cỏ một cuộc sống lao dộng binh yên.
-“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”: Sự kêt hợp hai hình ảnh: “câu hàt” và “gió khơi” dã cụ thề hóa sức mạnh dưa con thuyền ra khơi. Nghệ thuật ấn dụ chuyển dổi cám giác “câu hát cảng buồm “ dà tái hiện vẻ dẹp tâm hôn. Niêm vui lao dộng cùa người dân chài – đoàn thuyên ra khơi trong niêm vui lao dộng.
-Khung cánh ra khơi dược diễn tả trong một thời điểm khá đặc biệt: đúng lúc hoàng hôn buông xuông, thiên nhiên dọn dep chuản bi nghi ngơi:
Mặt trời xuông biên như hỏn lừa
Sóng dà cài then dèm sập cửa
Qua trí tưởng tượng dộc dáo cua Huy Cận. Hoàng hòn hiện lên thật kì vĩ: mặt trời lặn như “hỏn lừa” lớn bị nhúng nước; sóng vồ ngang như “cài then”, bóng đêm như tấm cưa lớn “sập” xuống mau lẹ. Hàng loạt so sảnh, nhản hóa. Ân dụ làm vủ trụ vào đêm như có hỏn. Vũ trụ dược hình dung như một ngôi nhà lớn vào dèm với nhửng dộng tác như con người: tắt lửa, cài then, sập cứa... Màn dèm là tấm cữa không lô, nhừng lươn sóng là then cải, thiên nhiên mang vẻ mênh mang, huyèn bí, dẩy thách thức với con ngưởi.
b. Khổ thơ cuối bài thơ - khúc tráng ca lao dộng tấu lên khúc khái hoàn
-Không gian thơ vận dộng từ “mặt trời xuòng biên” (khô 1) đến “mặt trời dội biên’’ (khô 7), tức là từ dêm tối ra binh minh, từ bóng tối ra ánh sáng, đồng thời hành trình đánh cá cùng vận dộng từ lúc ra khơi đến lúc trở về trong thắng lợi.
Cáu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyên chạy dua cùng mạt trời
Mặt trời dội biên nhô màu mời
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
-Câu đáu khổ cuổi bài thơ lặp lại câu cuồi khô đầu (vởi một biến thể nhỏ: thay chữ “cùng” thành chữ “với”) tạo ra một phép trùng diêp dầy âm vang cùa khúc tráng ca lao động: “câu hát” theo suòt hành trình lao dộng cùa người dân chài, đòan thuyên ra khơi bằng tiêng hát, đánh cá trên biên cùng tiếng hát. Trở về vần hát vang. Bốn chừ “hát” lặp lại trong bài thơ ngân nga như một diệp khúc hào hùng rạo rực niềm vui.
-Đoan thơ dựng lại cuộc dua tổc dộ: giừa doán thuyền và mật trời, giửa con người và vũ trụ. Nhà thơ hai lần sư dụng phép song hành giừa thiên nhiên và con người: lẩn 1 ơ câu 2 song hành trong một cảu thơ (“doàn thuyền” ơ dầu câu, “mặt trời” ở cuối cảu), lần 2 ở câu 3 và 4 song hành qua hai câu thơ “mặt trởi” ớ câu 3, “mắt cả” ỡ câu 4. Sự song hành ày chứng tò cả hai tới đích cùng thời gian, không có kẽ thẳng người thua tao thành một két thúc thật huy hoàng, tao nên hai cảu thơ hài hòa như hai vế đối: mảt trời tòa sáng trên cao, mắt cá lóa sáng dưới biển, muôn triệu mẩt cá lấp lánh như nhừng “mặt trời bé thơ”. Mắt cá trớ thành biêu tượng rực rỡ của thành qủa lao dộng, biêu tượng lấp lánh niềm hi vọng vào tương lai. Phép dổi giừa “mặt trời” và “mắ
 






Chia sẻ mới nhất